Hội nghị ASPA thứ 16 TP Hồ Chí Minh, Việt Nam 2012
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 28/11/2013 Lượt xem: 21

Khoa học, thị trường và xã hội trong quá trình phát triển “xanh”: Xác định vai trò trung gian của các công viên khoa học và công nghệ. Trình bày bởi Giáo sư Tim Turpin: Nhóm Nghiên Cứu Trung Tâm Công Nghiệp và Nghiên cứu Đổi Mới, Đại học Western Sydney, Úc - t.turpin @ uws.edu.au

 
Khoa học, thị trường và xã hội trong quá trình phát triển “xanh”: Xác định vai trò trung gian của các công viên khoa học và công nghệ.
 
Bài phát biểu chính
Trình bày bởi Giáo sư Tim Turpin *,

Nhóm Nghiên Cứu Trung Tâm Công Nghiệp và Nghiên cứu Đổi Mới, Đại học Western Sydney, Úc
t.turpin @ uws.edu.au
 
Để chuẩn bị bài thuyết trình này, đã có sự cộng tác với Tiến sĩ Richard Woolley, INGENIO-CSIC, Valencia, Tây Ban Nha và Tiến sĩ Dilupa Nakandala, Nhóm Nghiên cứu Công nghiệp và Đổi Mới, Đại học Western Sydney

Một chủ đề phổ biến đang xuất hiện trong chính sách khoa học ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương là sự quan tâm ngày càng nhiều về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Vai trò của khoa học trong việc cải thiện hiểu biết về các vấn đề có liên quan được phản ánh trong các kế hoạch phát triển quốc gia của hầu hết các nước trong khu vực. Trong nhiều trường hợp, những vấn đề này được gắn liền với các tuyên bố ưu tiên chung chung, ngay cả khi các chi tiết cụ thể để giải quyết những thách thức được giao cho các viện nghiên cứu nhà nước. Môi trường cũng là một vấn đề then chốt đối với ngành nông nghiệp và chính sách vận tải khi chúng ta đang sống trong một thế giới hạn chế xả thải carbon. Bài viết này bàn về các đáp ứng đối với nhiệm vụ phát triển bền vững trong khu vực với lập luận rằng một mặt, nó đang được thúc đẩy bằng chính sách công được phản ánh trong các cuộc tranh luận công khai và các kỳ vọng và mặt khác bởi khoa học và năng lực sản xuất. Ngay cả trong số những nước có các ưu tiên nghiên cứu 'xanh' được xác định rõ, mức độ đầu tư khoa học được thúc đẩy bởi sự kết hợp giữa chất lượng khoa học và nhu cầu thị trường. Vấn đề then chốt đối với hầu hết các quốc gia sẽ là phải tích hợp một nền tảng cơ sở khoa học đầy đủ cùng với  chính sách công phù hợp và năng lực sản xuất. Các công viên công nghệ có khả năng đóng một vai trò trung gian quan trọng giữa khoa học, các thị trường, xã hội và các chính phủ hướng tới việc đạt được các hệ thống đổi mới theo định hướng phát triển bền vững.
 
1. Giới thiệu:

Các tài liệu hiện đại nói về việc sản sinh ra kiến thức, sáng chế, sản xuất và tiếp thị sản phẩm hoặc dịch vụ nhìn chung thường trình bày các quá trình này ngày nay có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình toàn cầu hóa (ví dụ tham khảo Stein, 2002). Chắc chắn là với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), dòng chảy toàn cầu của thông tin, vốn tài chính, sản phẩm và dịch vụ đã trở nên nhanh chóng và sâu rộng (Castells, 2001). Theo chúng ta được biết, hợp tác khoa học quốc tế hiện nay là một đặc điểm trung tâm của sự đổi mới trong thế kỷ hai mươi mốt(Smits et al 2010). Nhưng không kể đến tiến độ thực tế và các công nghệ sẵn có trong truyền thông và cộng tác thì đã có bao nhiêu thay đổi thực sự về tiến triển trong khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới? Chúng tôi lập luận trong bài thuyết trình này rằng dòng chảy toàn cầu của kiến thức và các thị trường toàn cầu là do các đặc tính phù hợp của sự đổi mới trong suốt thế kỷ 19 và 20. Tuy nhiên trong thế kỷ hai mươi mốt, mối quan hệ tương hỗ giữa khoa học toàn cầu, thị trường toàn cầu và xu hướng toàn cầu trong chính sách của chính phủ đã mang lại sự thay đổi đáng kể về động lực xã hội vốn là cơ sở nền tảng của đổi mới. Nhu cầu cấp bách toàn cầu đối với phát triển bền vững, và nhu cầu quản lý hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên đã tạo ra các thị trường chủ động đòi hỏi “công nghệ xanh” và nhờ đó là phát triển sản phẩm bền vững hơn. Các chiến lược phát triển của chính phủ hiện nay vừa đáp ứng và còn thôi thúc them các nhu cầu thị trường đó hơn nữa.

Bài này bắt đầu bằng ví dụ của xe hơi điện vào giữa thế kỷ 19 và so sánh tiến bộ của nó (thông qua các thăng trầm) với sự tái xuất hiện của xe điện (EV) đầu thế kỷ hai mươi mốt. Câu chuyện về chiếc xe điện, cùng với sự phát triển các “công nghệ xanh khác”', chẳng hạn như tạo ra năng lượng tái tạo, chúng tôi lập luận rằng chúng cho thấy vai trò “trung gian” tiềm năng quan trọng của các công viên khoa học trong việc thúc đẩy việc đổi mới bền vững.
 
2. Sự thăng trầm và sự trở lại của xe điện

Khi William Morrison mang chiếc xe điện đầu tiên của mình ra khỏi tầng hầm phòng thí nghiệm bí mật của mình ở Bắc Mỹ và chạy trên đường phố của Des Moines, Iowa vào năm 1888, nó đã làm hàng ngàn người đứng xem diễu hành đường phố kinh ngạc, họ rõ ràng chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc xe chạy không cần ngựa kéo. Sự xuất hiện của nó tạo ra sự chú ý trên toàn thế giới (xem Des Moine Register, 2012). Tuy nhiên, rất ít những người quan sát đó nhận thức được các dòng chảy toàn cầu của kiến thức xuyên qua các biên giới quốc gia và các ngành khoa học đó đã dẫn tới sự phát triển ra chiếc xe đó.

Một trong những người tiên phong đầu tiên trong dự án này là một nhà vật lý Hungary, Anyos Jedik, người đã mở đường cho việc phát minh ra máy phát điện. Năm 1828, ông đã phát minh ra một xe chạy điện nhỏ (Timeline: history of the electric car. 2012). Khoảng sáu năm sau đó một nhà phát minh Scotland, Robert Anderson, phát minh chiếc xe điện thô sơ đầu tiên, chạy bằng ắc quy chính chỉ dùng một lần (không sạc được) (History of Electric Vehicles – early years, 2012)). Trong khi nhà phát minh Scotland này vẫn đang bận rộn phát triển nguyên mẫu của ông, hai đồng nghiệp Hà Lan, Sibrandus Stratingh, vốn là nhà hóa học, và kỹ thuật viên Christopher Becker, dựa trên các nguyên tắc về điện từ được phát hiện bởi nhà khoa học người Anh Michael Faraday, tạo ra một xe điện. Chiếc này thường được coi là tiền thân của chiếc xe điện (Đại học Groningen, 2012). Nhưng một thợ rèn người Mỹ, Thomas Davenport, một nhà tiên phong trong phát triển động cơ điện DC, được xem là người đã tạo chiếc xe điện thực dụng đầu tiên- một chiếc xe chuyên chở được chạy bằng điện. Davenport và 1 người Scotland khác, Robert Davidson đã sử dụng phát minh mới về ắc quy (không sạc được), vốn được tiên phong bởi nhà vật lý học người Ý Allesandro Volta và người Anh Daniell Cell để làm động cơ các chiếc xe điện của họ. Một bình ắc quy có thể sạc lại sau đó được phát triển bởi một người Pháp, Gaston Plante. Ông đã giới thiệu ắc quy của mình với khả năng cung cấp dòng điện trước Viện Hàn Lâm Khoa Học vào năm 1859.

Vào cuối những năm 1800, Chính phủ Anh và Mỹ đều ủng hộ mạnh mẽ cho sự phát triển của xe điện. Nhưng chính  nhà hóa học gốc Scotland, William Morrison là người được ghi nhận là đã tạo ra chiếc xe điện đầu tiên trên thế giới. Ông tạo ra nó trong xưởng của mình ở Iowa năm 1887. Xe của ông là một chiếc 4 mã lực, bánh lái đằng trước với tốc độ tối đa khoảng 20 dặm một giờ. Nó có thể chở tới 12 hành khách và chạy nhờ 24 ắc quy cần được xạc điện sau 50 dặm. Ông đã được cấp bằng sáng chế cho phát minh của mình và chiếc xe được trưng bày tại hội chợ Chicago vào năm 1893. Đến năm 1897, chiếc xe điện đã xuất hiện thường xuyên trên các đường phố tại Mỹ, với sự ra đời của các hãng taxi điện tại New York, Boston và Chicago. Đến năm 1900, mặc dù thời gian này có các xe chạy xăng và xe điện, một phần ba các xe chạy trên các đường phố của New York, Boston và Chicago là chạy điện (Timeline: History of the Electric Car, 2012). Các phát triển cao hơn nữa tiếp tục xảy ra khắp nước Mỹ và châu Âu. Năm 1899, một chiếc xe đua điện đã được phát triển tại Bỉ bởi một kỹ sư dân sự, Camile Jenatzy, bằng cách sử dụng hợp kim nhôm tiên tiến và một động cơ điện gắn trực tiếp lên trục lái xe. Trên chiếc xe mệnh danh “ngư lôi có bánh xe” này, Jenatzy đã thiết lập một kỷ lục thế giới về tốc độ trên bộ là 105 km một giờ.

Mặc cho các cải tiến liên tục của xe điện, vào những năm 1920, xe điện đã không còn chiếm ưu thế. Các con đường tốt hơn cho phép việc đi lại xa hơn (một hạn chế của xe điện-EV) và sáng chế của bộ khởi động điện loại bỏ hạn chế “khởi động tay quay” của động cơ xăng đốt trong (ICE). Những yếu tố này, cùng với việc phát hiện ra mỏ dầu thô Texas (cung cấp một nguồn nhiên liệu giá rẻ), tất cả góp phần vào sự sụp đổ của xe điện và tạo ra một quỹ đạo công nghệ thay thế được tiếp tục cho đến khi gần cuối thế kỷ 20. Sau đó, xe điện vào đầu thế kỷ 20 đã được thiết kế và nhắm vào các khách hàng giàu có hàng đầu của thị trường. Chúng được sản xuất công phu và sang trọng về thiết kế và lớp phủ ngoài. Mặt khác, Henry Ford, với mô hình T Ford lại tập trung vào thị trường đại chúng. Động cơ xăng đốt trong (ICE) đã chiến thắng và trở thành “nguồn cung cấp năng lượng” cho ô tô toàn cầu cho tới hết thế kỷ 20. Nó được sản xuất ở một mức giá phải chăng dành cho đại chúng, nhắm đến một thị trường rộng lớn hơn và cho phép khoảng cách đi xa hơn.

Tuy nhiên, xe điện trong vai trò phương tiện chủ đạo của giao thông vận tải đã có sự phục hồi ngoạn mục ở đầu thế kỷ 21. Các nhà sản xuất ô tô của Pháp hiện có kế hoạch có 2 triệu chiếc trên đường vào năm 2020; Đức 1 triệu và Trung Quốc 5 triệu vào năm 2030. Ấn Độ đã có sáu nhà sản xuất ô tô có kế hoạch cho xe hơi điện (Altenberg et al, 2012). Công ty Ấn Độ Tata hợp tác với Pháp sắp đưa ra mẫu xe điện đầu tiên dưới $20.000 và Indonesia sắp sản xuất hàng loạt các chiếc xe điện Ahmadi Mesin 5,0 (see World Energy, 2012). Sự thăng và trầm và thăng trở lại của chiếc xe điện mang lại một số bài học hữu ích cho việc quản lý khoa học, công nghệ, đổi mới và tiếp thị, tất cả các vấn đề cần quan tâm đối với các công ty và nhân viên ở các công viên khoa học. Liệu sản phẩm này chỉ đơn giản là một đột phá công nghệ? Đâu là quá trình xã hội liên quan ở đây?

Một số câu trả lời cho những câu hỏi trên có thể thấy được từ câu chuyện ngắn về sự sáng chế và phát triển mô tả ở trên. Đầu tiên, khoa học làm cơ sở cho sự phát triển của EV vừa mang tính đa ngành vừa quốc tế. Các tiến bộ bổ sung trong hóa học, vật lý, và khoa học kỹ thuật điện và cơ khí cho phép sự kết hợp sáng tạo của ắc quy, động cơ điện và cơ khí để tạo ra những ý tưởng và các nguyên mẫu mà cuối cùng đã dẫn đến chiếc xe được cấp bằng sáng chế của William Morrison. Thứ hai, những ý tưởng sáng tạo và các phát triển thực dụng là sản phẩm của sự nghiên cứu và các thí nghiệm khoa học và công nghệ diễn ra trên khắp Châu Âu và Bắc Mỹ. Mặc dù chỉ có một người được ghi nhận và sau đó cấp bằng sáng chế việc tạo ra chiếc xe điện đầu tiên, thực ra phần lớn nó là một quá trình quốc tế xuyên quốc gia nơi mà sự đổi mới công nghiệp đang phát triển nhanh chóng. Thứ ba, các chính phủ đóng một vai trò tương đối nhỏ trong việc hỗ trợ sự phát triển của những chiếc xe điện đầu tiên. Có lẽ nói thẳng là do mức độ hỗ trợ của chính phủ cho ngành công nghiệp dầu đang nổi lên ở Bắc Mỹ, có thể lập luận rằng chính sách của chính phủ đã mở đường cho sự sụp đổ của xe điện - cho đến cuối thế kỷ 20. Sự thống trị của động cơ đốt trong (ICE) trong ngành công nghiệp ô tô trong hơn một thế kỷ phản ánh các lợi ích được kết hợp chặt chẽ trong công nghiệp đã lèo lái quỹ đạo công nghệ của ô tô động cơ đốt trong. Thứ tư, đó là sự kết hợp tương hỗ của các chính sách của chính phủ phản ánh các mối quan tâm toàn cầu về môi trường tự nhiên, nhu cầu thị trường và phát triển công nghệ cuối cùng đã mở con đường mới cho sự phát triển và lên ngôi của xe điện. Kết quả là việc sản xuất ô tô đang trong quá trình chuyển đổi. Quá trình thay đổi này là triệt để, xảy ra nhanh chóng và có tính hệ thống. Đây là tất cả các đặc điểm mà Altenburg và những người khác đã mô tả là các hệ thống đổi mới theo định hướng phát triển bền vững (SoIS) (Altenburg, 2012).

Bài viết này tìm hiểu sự hợp nhất của các lợi ích thông qua ba qui trình xã hội là trung tâm của câu chuyện về chiếc xe điện và sự tái sinh sau đó của nó vào cuối thế kỷ 20: sự hợp tác khoa học; chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới; và đổi mới và thị trường. Sự hiểu biết cách thức ba quá trình này phối hợp với nhau sẽ là gợi ý cho chương trình trung gian của các công viên khoa học. Một chương trình như vậy không đơn giản là chỉ liên quan đến sự phát triển liên tục của xe điện mà nhìn chung đó là động cơ cho sự đổi mới bền vững. Động cơ để sạch hơn trong việc tạo ra năng lượng, sạch hơn trong sử dụng năng lượng và sản xuất, sử dụng nguyên liệu sạch, tất cả đều là các thách thức đối với các chính phủ, các nhà sản xuất và xã hội nói chung. Như chúng tôi sẽ lập luận sau đây trong bài viết này, những thách thức này mang lại những cơ hội mới và thú vị cho các công viên khoa học. Mặc dù trong trường hợp xe điện đã giới thiệu ở trên tập trung vào sự đổi mới chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ, trọng tâm cho phần còn lại của bài viết này là về sự đổi mới và phát triển bền vững ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
 
3. Các chính sách quốc gia đối với công nghệ, khoa học và đổi mới

Qua những năm của thập kỷ 1980 và 1990, tăng trưởng kinh tế trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã tăng ở mức chưa từng thấy. Như IMF đã chỉ ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn đáng kể mức trung bình lịch sử gần đây của họ và “ ... có lẽ chưa từng có tại bất kỳ thời điểm nào bởi bất kỳ nhóm các nền kinh tế nào có quy mô tương đương” (International Monetary Fund, 1997). Trên toàn khu vực, các chính phủ đã thiết lập chính sách khoa học và công nghệ là cơ chế để nâng cao mức độ đổi mới để củng cố tăng trưởng kinh tế (Turpin, 2000).

Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng và đầu tư công trong lĩnh vực khoa học và đầu tư công nghệ có khác nhau, vào cuối thế kỷ 20, hầu hết các nước trong khu vực đã có các chính sách khoa học và công nghệ dưới hình thức này hay hình thức khác. Hầu hết các nước đã thành lập các tổ chức nghiên cứu và các cơ sở hạ tầng hành chính để thúc đẩy kiến thức và giải quyết các vấn đề công nghệ. Bên cạnh việc xây dựng các tổ chức khoa học, hầu hết các quốc gia cũng nhắm đến việc tăng cường hợp tác quốc tế và khuyến khích sự phát triển năng lực công nghệ quốc gia trong cả hai khu vực tư nhân và nhà nước.

Mặc dù các hoạt động này đã được chỉ rõ là các mục tiêu quốc gia, các chiến lược để đạt được kết quả mong muốn lại khác nhau. Một số phương pháp tập trung hóa cao độ chú trọng chủ yếu vào xây dựng các tổ chức khoa học. Một số tập trung vào việc tạo ra các mối liên kết giữa khoa học và sản xuất bằng cách thiết lập các công viên khoa học hoặc các “hành lang” đặc biệt của các chương trình phát triển và “mở rộng”. Một số nhấn mạnh vào việc xây dựng năng lực nguồn nhân lực thông qua đào tạo công nghệ. Các sáng kiến ​​chính sách cơ sở trong những năm 1990 là ý tưởng phổ biến của mô hình đổi mới tuyến tính. Đó là sự giả định rằng nếu có đầu tư đầy đủ vào khoa học, các tiến bộ công nghệ sẽ đi theo và dẫn đến sự đổi mới trong công nghiệp và các ngành sản xuất khác, cuối cùng dẫn đến những tiến bộ tiếp theo trong phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.

Gần đây đã có một sự công nhận rằng các giả định tuyến tính không phù hợp với thực tế, có lẽ ngoại trừ trong một số rất ít các lĩnh vực công nghiệp (Shapira, 2010). Khoa học và công nghệ đã đến lúc cần được nhìn nhận rằng bản thân nó không phải là mục tiêu mà đúng hơn là một tập hợp các yếu tố trong một hệ thống đổi mới quốc gia (Lundvall, 2010). Vì vậy, những gì trước đây được xác định là các chính sách khoa học hay chính sách khoa học và công nghệ đã chuyển thành các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới (STI). Điều này đã dẫn đến sự nhấn mạnh hơn trong việc điều phối các chính sách KH&CN với một loạt các cơ quan chính phủ và các chương trình của họ. Các cơ quan này bao gồm các tổ chức công có liên quan tới công nghiệp, tài chính, đầu tư, thương mại, giáo dục, y tế và các tổ chức chịu trách nhiệm về chế độ sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp tư nhân và các hiệp hội công nghiệp, và các tổ chức cộng đồng liên quan đến kỹ năng, chuyên môn, vốn chủ sở hữu cộng đồng và phát triển địa phương.

Có ba ý nghĩa lớn đối với khoa học, công nghệ và đổi mới (ST&I) theo sau. Đầu tiên, đó là có thêm rất nhiều các cơ quan và các bên có lợi ích trực tiếp và/hoặc bị ảnh hưởng bởi sự ra đời của các công cụ chính sách STI. Điều này có nghĩa là qui trình hoạch định chính sách sẽ trở nên 'lộn xộn' hơn và có nhiều tranh cãi hơn. Thứ hai, cần cân bằng trọng tâm, mục đích và tác động của các công cụ chính sách để đạt được trạng thái cân bằng trên toàn hệ thống. Nếu công cụ chính sách được đặt ở 1 vị trí đó mang lại lợi ích cao hơn cho một phần của hệ thống so với phần khác (mà đây thường là mục đích), sự cân bằng cần phải được theo dõi và xem xét cẩn thận. Tại một số điểm, có thể cần phải thay đổi trọng lượng của các công cụ chính sách hướng tới một khu vực hoặc thành phần khác trong NIS. Tóm lại, khoa học, công nghệ và đổi mới có thể tạo thêm nhiều tranh cãi sôi nổi hơn so với khi chỉ có một lĩnh vực chính sách khoa học duy nhất. Cuối cùng, vì hầu như mọi quốc gia đều có một bối cảnh xã hội, kinh tế, công nghiệp và chính trị khác nhau, cần phải để học hỏi từ quá trình hoạch định chính sách địa phương khi nó tiến triển. Công cụ nào có hiệu quả tốt và công cụ nào không, và chúng đã tạo nên những khác biệt gì? Điều này đòi hỏi sự phối hợp đáng kể, và để đạt được điều này cần có sự hợp tác của các bên liên quan và xác định rõ các ý tưởng, chiến lược, cơ hội và rào cản cho sự đổi mới và phát triển. Altenburg et al (2012) đã mạnh mẽ cho rằng cần có cụm các nhóm lợi ích để thông báo cho chính sách. Mặc dù các ý tưởng và các sáng kiến ​​chính sách STI mới được đưa ra ở các nước khác có thể mang lại cơ hội học hỏi kinh nghiệm cho những nước khác, bối cảnh địa phương là yếu tố quyết định then chốt để chúng có thành công hay không. Như Boakholt đã nói: "[Trong những năm 1990 vẫn còn có sự tìm kiếm cách thực hiện tốt nhất, bây giờ chúng ta biết sự thành công hay thất bại của các công cụ chính sách là phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh '(Boakholt, 2010:353). Nên nhớ rằng ở các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức STI đã phát triển qua “nhiều thập kỷ thử nghiệm và sai sót, thiết kế lại và sửa chữa”(Niosi, 2010: 253). Như vậy, trong các nền kinh tế kém phát triển, các công cụ chính sách cần phải được xem xét trong bối cảnh địa phương và bởi các nhà thực thi chính sách địa phương. Chúng cần phải được thiết kế, triển khai và giám sát thông qua “tầm nhìn địa phương” và “tư duy địa phương”. Các quá trình như vậy đòi hỏi sự đối thoại và cần có “tiêu điểm” cho sự xác định các lời khuyên như vậy.[1]
 
4. Các vấn đề toàn cầu và nhu cầu bắt buộc đối với phát triển bền vững

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu, sản xuất quy mô lớn và tiêu thụ khối lượng lớn hàng hóa và năng lượng đã thúc đẩy nhu cầu toàn cầu cần giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, thực phẩm và các nguyên liệu khác. Các xem xét ​​gần đây về khoa học trong khu vực châu Á (Shenegans, 2011 và Degelsegger và Blasy 2011) đã ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của các biện pháp để đối phó với các yếu tố môi trường trên được gắn kết chặt chẽ vào trong các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới. “Chuyển đổi nền kinh tế thế giới theo hướng bền vững, trong khi vẫn đảm bảo mức độ cung cấp tài nguyên đầy đủ cho tất cả công dân toàn cầu là thách thức lớn nhất của thời đại chúng ta ... [Các hệ thống đổi mới cần được điều chỉnh phù hợp để đối phó thành công với những thách thức này (Altenburg, 2012, 1) . Những thách thức, như Altenburg và các đồng nghiệp của ông đã nêu, đó là thúc đẩy sự phát triển và ứng dụng các công nghệ bền vững về môi trường thông qua các hệ thống đổi mới phát triển bền vững. Họ lập luận rằng xanh hóa nền kinh tế đòi hỏi một sự thay đổi mô hình kinh tế - kỹ thuật một cách cấp tiến, nhanh chóng và có hệ thống (Altenburg, 2012:1).

Trong trường hợp của xe điện được giới thiệu ở trên, dòng chảy kiến thức quốc tế mà đầu nguồn là các thị trường ở Bắc Mỹ và châu Âu là một yếu tố trong sự thăng hoa của nó. Các chính phủ đóng một vai trò trung gian tương đối nhỏ, để cho thị trường định hướng phát triển. Việc lên ngôi của ICT vượt qua xe điện là kết quả của các lực lượng thị trường yêu cầu việc sản xuất và chi phí vận hành rẻ hơn và khả năng để đi khoảng cách xa hơn và ngành công nghiệp dầu hỏa mới nổi lên ở Mỹ được hỗ trợ mạnh mẽ bởi chính sách của chính phủ. Sự hồi sinh của xe điện là kết quả của năm quá trình xã hội chính: (a) nhu cầu xã hội toàn cầu đối với các sản phẩm xanh hơn và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, (b) các nỗ lực đồng bộ để phối hợp các chiến lược chính phủ trên toàn thế giới để giảm lượng khí thải carbon; (c) các chiến lược đổi mới và phát triển có sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong cùng quốc gia và xuyên suốt các biên giới quốc gia, và (d) sự phát triển song song và phối hợp của các công nghệ như ắc quy, cơ chế động cơ và phần mềm thông minh và (e) khả năng của công nghệ thông tin và truyền thông làm dòng chảy kiến thức khoa học mới nhanh chóng hơn và khả năng truyền đạt nhanh chóng trong tổ chức rất cần cho sản xuất quy mô lớn.

Không chỉ sự hồi sinh của xe điện đã được tạo điều kiện bởi các quá trình xã hội trên. Các quá trình tương tự cũng đã được thấy rõ trong sự phát triển của các ngành công nghiệp tuabin gió ở Trung Quốc và Ấn Độ (Walz and Delago, 2012 và Urban et al, 2012), quang điện ở Trung Quốc (Fischer, 2012) và năng lượng mặt trời tại Úc và các nơi khác (xem phần thảo luận dưới đây).
 
5. Hợp tác kiến thức:

5.1 Hướng tới mạng lưới tri thức S & T toàn cầu

Trong khi nhiều nước đang phát triển đã và đang tìm cách tăng cường nền tảng KH&CN của họ để phát triển, xu hướng toàn cầu của các mối quan hệ giữa công nghệ, khoa học và các ngành công nghiệp cũng đã trải qua thay đổi. Điền này mang lại những thách thức mới, nhưng cũng là những cơ hội mới. Không có một nền kinh tế nào có thể chỉ dựa vào các nguồn lực của riêng mình cho tất cả các khía cạnh của sự đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong khoa học). Cuối cùng thì sự hợp tác xuyên biên giới quốc gia là điều cần thiết cho sự phát triển.

Hợp tác trong việc tìm kiếm kiến thức mới và phổ biến nó đã trở nên quan trọng và tất cả các nước cần phải tiếp cận với khoa học toàn cầu vì hầu như không có một quốc gia duy nhất nào có các nguồn lực để đạt được mức độ cao nhất trong tất cả các ngành và các lĩnh vực liên G183 ngành có liên quan (xem Zaman and Gardner, 2011; Altenburg Pegels, 2012). Một hệ thống đổi mới quốc gia cần phải được cơ cấu để tham gia một cách có hiệu quả nhất trong việc tạo ra tri thức toàn cầu và trong các mạng lưới phổ biến. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang trong quá trình “chuyển đổi” sang một cơ sở kinh tế mới.

Thế kỷ 21 đưa ra một bối cảnh công nghiệp bị chi phối bởi các mạng lưới chiến lược. Những mạng lưới này thu hút kỹ năng và kiến thức về khoa học công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và hệ thống kinh doanh với nhau vào “các mạng lưới đổi mới”'. Các thành viên chính trong các mạng lưới này bao gồm các công ty, viện nghiên cứu, viện đào tạo và tổ chức kiến thức chuyên sâu như các trường đại học và bệnh viện. Mạng lưới đổi mới liên tục thay đổi khi các thành viên chính của nó đưa ra các quyết định nên mở rộng hoặc giảm bớt sự tiếp cận vào các mạng lưới, nên mở cửa cho các thành viên mới hoặc “đóng cửa”'. Nhưng đáng kể nhất là các mạng lưới đổi mới này vượt khỏi biên giới quốc gia. Trong bối cảnh này, các chiến lược để đạt được và duy trì sự tiếp cận với nguồn nhân lực cho các công nghệ chủ chốt theo nhu cầu toàn cầu cần phải mang tính hợp tác hơn là cạnh tranh. Hợp tác khoa học trên toàn khu vực châu Á đã phát triển nhanh chóng trong hai thập kỷ qua. Điều này thể hiện rõ ràng trong các mô hình xuất bản đồng tác giả. Điều này đã được ghi nhận rất rõ ở các nơi khác, nhưng đáng kể hơn là đã có một sự tăng trưởng trong mô hình xuất bản đồng tác giả đa phương. Phần dưới đây sẽ hướng sự chú ý đến hiện tượng mới này với sự tập trung cụ thể vào nhóm các nước ASEAN.
 
5.2 Hợp tác khoa học trong khối ASEAN và quan hệ đối tác tri thức toàn cầu

Hợp tác khoa học quốc tế đang mở rộng và đến nay đã kết nối xa hơn rất nhiều so với thế kỷ 19. Hình 1 cho thấy tỷ lệ so sánh đồng xuất bản quốc tế trong sáu nước ASEAN. Ba nước có tỷ lệ so sánh cao nhất về số lượng xuất bản có các tỷ lệ thấp nhất về các xuất bản đồng tác giả quốc tế . Điều này rõ ràng là do năng lực khoa học tương đối cao ở Singapore và thấp hơn một chút là Malaysia và Thái Lan, đã khiến các quốc gia này ít phụ thuộc vào đầu vào quốc tế để sản sinh ra kiến thức khoa học. Sự cộng tác là một phần của quá trình xây dựng năng lực khoa học.

Đồng thời, tỷ lệ của các ấn phẩm hợp tác quốc tế đã phát triển nhanh nhất trong những năm gần đây tại Singapore, là quốc gia có hệ thống khoa học phát triển cao nhất trong nhóm này. Tỷ lệ đồng xuất bản quốc tế của các tác giả Singapore đã tăng từ khoảng 0,25 vào năm 1995 lên đến khoảng 0,5 trong năm 2008. Việc tăng gấp đôi nhanh chóng các đồng ấn bản quốc tế là sự phản ánh sự lên ngôi của Singapore trong vai trò một trung tâm tri thức khu vực với ngày càng nhiều các khoa học gia và các chuyên gia kỹ thuật nước ngoài ở đó. Sự hiện diện của số lượng lớn các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng có thể xây dựng nên mạng lưới đồng xuất bản tại các địa điểm nghiên cứu trước kia của họ và các điểm đã đào tạo họ, dù là chúng nằm ở quê hương của họ hoặc ở nơi nào khác.

Hình 1, so sánh tỷ lệ đồng xuất bản quốc tế trong khu vực ASEAN

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012
 
5.3 Các mô hình đồng xuất bản xuyên quốc gia

Bảng 1 và 2 cho thấy vị trí quốc gia của các đối tác trong các đồng xuất bản khoa học. Các tác giả Indonesia và Philippines có một tỷ lệ khá cao các tác phẩm đồng tác giả với các đồng nghiệp ở Mỹ, với một phần năm các ấn phẩm là với một đồng tác giả Mỹ. Các tác giả Indonesia cũng có một tỷ lệ đồng xuất bản nhiều tương đương với các tác giả Nhật Bản, các tác giả Úc và Hà Lan đồng xuất bản một trên mười ấn phẩm của Indonesia. Nhật Bản và Mỹ cũng là các địa điểm chính của những đồng tác giả với tác giả Việt Nam, các đồng tác giả từ Pháp và Đức cũng khá nhiều.

Các đồng xuất bản của các tác giả Malaysia ít tập trung mạnh vào địa điểm cụ thể. Địa điểm nổi bật nhất với nhiều đồng tác giả là Trung Quốc, nhưng với tỷ lệ khoảng một trên 15 các ấn phẩm. Các đồng tác giả Trung Quốc cũng hợp tác nhiều với các tác giả Singapore, tỷ lệ đồng xuất bản 1/10 ấn phẩm. Các tác giả Singapore có tỷ lệ đồng xuất bản tương tự với các tác giả Hoa Kỳ. Các tác giả Thái Lan có một mối quan hệ đồng xuất bản mạnh mẽ với tác giả Hoa Kỳ, 1/5 các ấn phẩm, và với các đồng tác giả Nhật Bản là 1/10. Ngoài ra còn có mức độ đồng xuất bản quốc tế khá mạnh mẽ giữa sáu quốc gia trong nhóm Đông Nam Á này, đặc biệt là các ấn phẩm hợp tác giữa các tác giả Malaysia và Singapore với những tác giả Việt Nam.
 
Bảng 1. Các ấn phẩm SCI 1986-2008 các địa điểm của các đồng tác giả – Indonesia, Philippines & Vietnam

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012
 
Bảng 2. Các ấn phẩm SCI 1986-2008 địa điểm các đồng tác giả – Malaysia, Thailand & Singapore

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012
 
Đối với Malaysia, Thái Lan và Singapore địa điểm quan trọng của các tác giả quốc tế giả cả về xếp hạng và số lượng đồng ấn phẩm rõ ràng là Hoa Kỳ. Nhật Bản là địa điểm quan trọng tiếp theo của các đồng tác giả. Trong khi mức độ đồng xuất bản với Trung Quốc không đồng đều với tất cả 6 nước, các đồng ấn phẩm với Singapore là cao thứ hai trong tất cả các quốc gia hợp tác, đẩy tổng số ấn phẩm liên quan đến các đồng tác giả Trung Quốc lên gần ngang bằng với Nhật Bản. Úc và Anh có sự tham gia tương tự và số lượng đồng ấn phẩm với các đồng tác giả Anh hơi tập trung nhiều hơn một chút với Malaysia và các đồng tác giả Úc tập trung vào Indonesia và Philippines.

Có một mức độ đồng đều rõ ràng trong các hợp tác xuất bản với các hệ thống khoa học châu Âu quan trọng khác bao gồm Đức, Pháp và Hà Lan, các liên kết với Ý và Thụy Sỹ cũng khá rõ ràng. Các đồng xuất bản liên kết nhiều nhất với các nước vùng Scandinavia là với các tác giả Thụy Điển. Các liên kết đồng xuất bản tương đối mạnh với các trung tâm nghiên cứu châu Á khác ngoài Nhật Bản và Trung Quốc cũng khá rõ ràng, với Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan nằm trong mười hai địa điểm hàng đầu trong hợp tác đồng tác giả với sáu quốc gia châu Á này trong giai đoạn 1986 - 2008. Vì vậy ngoài số lượng tăng đáng kể các ấn phẩm hợp tác trong và giữa các khu vực ở cấp độ đa phương, các cộng tác như thế còn được kết hợp chặt chẽ với các qui trình sản sinh tri thức của các nước và khu vực sáng tạo nhất trên thế giới.
 
5.4. Quan hệ song phương hoặc mạng lưới đa phương?

Tuy nhiên cộng tác khoa học không phải chỉ đơn giản là một quá trình hai chiều. Nó thường liên quan đến dòng chảy của kiến thức và thực hành khoa học xuyên qua các biên giới quốc gia. Dữ liệu cho hai cụm đồng xuất bản nổi bật nhất cho mỗi nước trong nhóm 6 nước Đông Nam Á thảo luận ở trên cho thấy Nhật Bản và Mỹ là hai địa điểm phổ biến nhất của đồng tác giả cho Indonesia, Philippines và Việt Nam. Sức mạnh tương đối của xuất bản song phương và đa phương phần lớn là chức năng tiến hành công tác khoa học và có thể thay đổi theo từng ngành (Lydesdorff và Wagner (2005). Mức độ đồng xuất bản đa phương là đáng kể trong mỗi nước ASEAN được thảo luận ở đây. Đồng xuất bản đa phương cao hơn song phương trong liên kết giữa Việt Nam và các tác giả Hoa Kỳ. Về mặt các tác phẩm đa phương, các đồng tác giả phụ thêm thường là từ cùng một địa điểm đã nổi bật về đồng ấn phẩm song phương. Đối với Malaysia, Thái Lan và Singapore ít nhất 1/5 đồng là đồng ấn phẩm là đa phương. Trong các trường hợp đồng ấn phẩm của Malaysia-Nhật Bản, Thái Lan-Mỹ và Singapore –Hoa Kỳ, tỷ lệ các ấn phẩm đa phương là 1/3
 
Bảng 3: Đồng xuất bản song phương và đa phương, Malaysia, Singapore & Thailand

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012
 
Ấn phẩm đa phương là một phần quan trọng tạo ra kiến thức khoa học cho các nước ASEAN trên. Điều này có vẻ là trường hợp đặc biệt nhiều đối với các quốc gia sản sinh ít kiến thức. Hơn nữa, mối quan hệ hợp tác mạnh mẽ của Singapore với Trung Quốc có vẻ như ngày càng dưới dạng kết nối mạng đa phương. Thái Lan cũng có vẻ tham gia nhiều trong hoạt động hợp tác xuất bản đa phương với nhiều nước. Đánh giá theo chỉ số dữ liệu đồng xuất bản thì các mạng lưới phân phối các cán bộ khoa học là rất quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống khoa học và sản sinh tri thức trong khu vực Đông Nam Á. Thông qua các mạng lưới như vậy mà các công ty trong các công viên khoa học trong khu vực có thể tiếp cận với các phát triển mới trong khoa học.
 
5.5. Hợp tác khoa học chia theo lĩnh vực

Quy mô xuất bản hợp tác quốc tế và tác giả song phương hoặc đa phương cũng là một chức năng của các lĩnh vực của các nhà nghiên cứu từ các quốc gia khác nhau (Lydesdorff và Wagner, 2005). Dữ liệu cho mỗi cụm chính đã xác định được tóm tắt từ giai đoạn 2001-2008, để cung cấp một cảm nhận cao hơn về các lĩnh vực khoa học được tập trung trong các quốc gia này và các mức độ khác nhau của việc phân nhóm dựa trên các lĩnh vực.

Bảng 4. Các đồng xuất bản chia theo cụm lĩnh vực, Indonesia, 2001-2008.

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012

Cụm đồng xuất bản Indonesia - Nhật Bản có vẻ tập trung vào nông nghiệp, khoa học hóa chất và dược phẩm, trong khi Indonesia-Hoa Kỳ có vẻ như là định hướng vào sức khỏe dân số và nghiên cứu bệnh. Sức khỏe công cộng, môi trường và nghề nghiệp là đề tài lớn nhất cho các đồng ấn phẩm Indonesia – Hoa Kỳ. Các địa điểm phổ biến nhất của các đồng tác giả trên các ấn phẩm đa phương trong lĩnh vực này là từ Thái Lan (11 ấn phẩm), Ấn Độ (7) và Việt Nam (7). Chỉ có một trong 82 ấn phẩm này là của một đồng tác giả Nhật Bản. Cả hai cụm đồng xuất bản bao gồm 44 ấn phẩm về khoa học thực vật, tuy nhiên chỉ có sáu trong số này có sự xuất hiện của cả tác giả Nhật Bản và Hoa Kỳ. Chỉ có bốn ấn phẩm về đề tài khoa học địa chất đa ngành nằm trong cả 2 cụm. Hợp tác khoa học Nhật Bản và Hoa Kỳ theo các đồng ấn phẩm phản ánh các đóng góp khá khác nhau để sản sinh kiến thức chung.
 

Bảng 5. Các lĩnh vực cụm đồng xuất bản, Philippines, 2001-2008.

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012

Hai cụm đồng xuất bản quốc tế chính của các nhà khoa học Philippines rất giống nhau trong các lĩnh vực chủ yếu. Kiến thức khoa học sản xuất trong cả hai cụm tập trung vào khoa học thực vật, thực phẩm, nước và môi trường. Cụm Philippines-Hoa Kỳ cũng có một mức độ tương đối cao các ấn phẩm hợp tác đa phương, khoảng 50%, mặc dù Philippines-Nhật Bản thấp hơn ở mức khoảng 30%. Điều này gợi lên rằng có nhiều khả năng có một số tác phẩm của cả các nhà nghiên cứu Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, nếu tất cả các ấn phẩm trong các đề tài khoa học thực vật, nông học và nông nghiệp đa ngành được kết hợp thì chỉ có chín ấn phẩm có tác giả vừa Mỹ vừa Nhật Bản. Dấu hiệu này cho thấy đây là hai cụm khá khác biệt cùng làm việc trên các lĩnh vực khoa học tương tự.

Bảng 6 . Các lĩnh vực cụm đồng xuất bản, Vietnam, 2001-2008.

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012.

The Vietnam-based authors’ co-publication clusters are relatively small in terms of paper volumes, particularly in the case of the USA cluster. The subject areas are similar to corresponding Japan- and USA-based co-publication clusters for Indonesia-based authors. Once again differences in subject areas between the two co-publication clusters may be a function of the relatively high level of multi-lateral publication in the USA-based cluster. Overall, the international co-publications of Indonesia, the Philippines and Vietnam thus appear to be relatively concentrated in agriculture, plant, water, food and marine science in the one direction (Japan), along with some pharmaceutical research in the cases of Indonesia and Vietnam. In a second direction (the USA) the emphasis is more heavily on co-publications in the areas of health and disease research and with a noticeable more multi-lateral authorship structure.

Các cụm đồng xuất bản của các tác giả Việt Nam tương đối nhỏ về số lượng ấn phẩm, đặc biệt là trong trường hợp của cụm Hoa Kỳ. Các đề tài cũng tương tự với Indonesia tương ứng với cả 2 cụm Nhật Bản và Hoa Kỳ. Một lần nữa sự khác biệt trong các lãnh vực giữa hai cụm đồng xuất bản là ở mức độ tương đối cao trong các ấn phẩm đa phương trong cụm Hoa Kỳ. Nhìn chung, các đồng ấn phẩm quốc tế của Indonesia, Philippines và Việt Nam có vẻ tương đối tập trung trong nông nghiệp, cây trồng, nước, thực phẩm và khoa học biển trong cụm Nhật Bản, cùng với một số nghiên cứu dược phẩm trong trường hợp của Indonesia và Việt Nam. Theo hướng thứ hai (cụm Hoa Kỳ) nhấn mạnh nhiều hơn các lĩnh vực nghiên cứu sức khỏe và bệnh tật và với một cấu trúc tác giả đa phương nhiều hơn.

Bảng 7. Cụm đồng xuất bản chia theo lĩnh vực, Malaysia, 2001-2008.

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012.

Hai cụm đồng xuất bản quốc tế của các nhà khoa học Malaysia có vẻ rất khác nhau về phạm vi chuyên môn. Cụm nhỏ hơn Malaysia-Nhật Bản rất năng động trong các lĩnh vực tương tự như các đồng ấn phẩm của Nhật Bản với Indonesia, Philippines và Việt Nam. Cụm Malaysia-Nhật Bản đã liên tục có một tỷ lệ tương đối cao các đồng ấn phẩm đa phương so với hầu hết các cụm của Malaysia, Singapore hay Thái Lan.

Cụm Malaysia-Trung Quốc tập trung chủ yếu ở lĩnh vực tinh thể học và các lĩnh vực hóa học khác trong lĩnh vực rộng lớn hơn của khoa học vật liệu. Trong số các đồng ấn phẩm về tinh thể học, 71 quyển có thêm một tác giả từ  Thái Lan. Chỉ 3 trong số 603 ấn phẩm có một tác giả Nhật Bản. Cụm đồng ấn phẩm tinh thể học lớn thứ hai bao gồm các tác giả Ấn Độ (321 ấn phẩm). Lại một lần nữa các tác giả Thái Lan là đồng tác giả phổ biến nhất của các ấn phẩm về tinh thể học (54 ấn phẩm). Mười sáu ấn phẩm có các tác giả Hoa Kỳ và ba ấn phẩm có các đồng tác giả Nhật Bản.

Như vậy, lĩnh vực tinh thể học có vẻ được chia thành hai cụm đồng xuất bản quốc tế riêng biệt, một có trung tâm ở Trung Quốc và trung tâm khác ở Ấn Độ. Mặc dù hai cụm này không trùng với nhau một cách đáng kể, chúng đều có sự tham gia mạnh mẽ của các đồng tác giả Thái Lan. Do đó có thể có một số liên hệ gián tiếp giữa hai cụm đồng xuất bản trên thông qua các cộng tác viên chung cùng đến từ Thái Lan.

Bảng 8. Cụm đồng xuất bản chia theo lĩnh vực, Thailand, 2001-2008.

Nguồn: Thompson, Web of Science, 201

Các lĩnh vực của hai cụm đồng ấn phẩm của Thái Lan có vẻ khá giống nhau, trừ lĩnh vực hàng đầu trong mỗi cụm. Phân tích của cụm Thái Lan-Nhật Bản về ấn phẩm công nghệ sinh học và ứng dụng vi sinh cho thấy chỉ có một ấn phẩm có đồng tác giả người Mỹ. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ thực phẩm chỉ có một ấn phẩm có cả tác giả Nhật và Mỹ, mặc dù có số lượng tương đối lớn các ấn phẩm trong lĩnh vực này trong cả cụm. Mặc dù cùng lĩnh vực nhưng các cụm đồng xuất bản lại khá khác biệt.

Hai cụm đồng xuất bản của Singapore và Thái Lan có vẻ khá tương tự trong sự lựa chọn các lĩnh vực. Trong lĩnh vực kỹ thuật, điện và điện tử có một số lượng khá đáng kể của các ấn phẩm (73) trong cả 2 cụm trong đó có các đồng tác giả của cả Mỹ và Trung Quốc. Về các đồng tác giả phụ, 25 ấn phẩm trong cụm Trung Quốc có bao gồm một tác giả Úc, trong khi 26 ấn phẩm trong cụm Hoa Kỳ có bao gồm một tác giả Đài Loan. Trong lĩnh vực vật lý ứng dụng, có 35 ấn phẩm có tác giả của cả 2 cụm. Về các đồng tác giả phụ, 13 ấn phẩm trong cụm Trung Quốc có bao gồm một tác giả Đức, 13 ấn phẩm có bao gồm một tác giả Đài Loan, 13 ấn phẩm bao gồm một tác giả Anh và 11 ấn phẩm bao gồm một tác giả Đức. Trong số 35 ấn phẩm bao gồm các tác giả Singapore, Hoa Kỳ và Trung Quốc, có 2 ấn phẩm có thêm các đồng tác giả từ Đức, Hàn Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong lĩnh vực của khoa học vật liệu đa ngành, có tổng cộng 31 ấn phẩm có tác giả Mỹ và cả Trung Quốc. 8 trong số 31 ấn phẩm này có thêm đồng tác giả bên ngoài mạng lưới Singapore-Trung Quốc-Hoa Kỳ, với số lượng lớn nhất (4 ấn bản) thuộc về các đồng tác giả Đức.

Tóm lại, những dữ liệu này cho thấy sự hợp tác khoa học liên quan đến các nhà khoa học trong khu vực Đông Nam Á là rất rộng lớn và mang tính toàn cầu. Nó bao gồm nhiều người và được kết hợp chặt chẽ vào trong các mạng lưới khoa học toàn cầu (xem thêm Bozeman and Corley, 2004). Hơn nữa, các mối cộng tác này có vẻ mang tính chiến lược khi xét theo phân chia theo quốc gia và lĩnh vực. Mặc dù sự cộng tác trong lần đầu tiên có thể là một sản phẩm nhờ có cơ hội thuận tiện, sự phát triển của mạng lưới hợp tác dài hạn không phải là tình cờ. Bằng chứng cho thấy rằng các mối quan hệ đó phát triển và trở nên sâu sắc hơn thông qua các quá trình phát triển sự nghiệp – khi có cơ hội cho phép. Tầm quan trọng sâu sắc của các mạng này nhằm để liên kết các nhà khoa học với điều chúng ta gọi là mạng lưới kiến thức phân tán (DKNs) (Turpin et al, 2007, 2008). Các mạng lưới này không chỉ hình thành từ việc hợp tác xuất bản, mặc dù nó rõ ràng là một trong những kết quả. Công tác của các doanh nghiệp kinh doanh tìm cách tiếp cận những kiến ​​thức mới không chỉ đơn giản là tuyển dụng các nhà khoa học để có các kiến thức và kinh nghiệm của họ mà còn để đạt được sự tiếp cận với các mạng lưới kiến ​​thức khoa học liên quan đến các lĩnh vực mới của khoa học.

Việc chuyển các ý tưởng và sự sáng tạo vào sản xuất trên toàn cầu là điều hiển nhiên thể hiện qua sự đưa vào sản xuất nhanh chóng xe điện của Mỹ, xe đua Bỉ ở Châu Âu, sử dụng các phát triển mới trong công nghệ vật liệu. Trong thế kỷ 21, việc phát triển tại Úc và cuối cùng là sản xuất và tiếp thị các pin năng lượng mặt trời mang lại hiểu biết sâu sắc về việc các chính sách phát triển bền vững của chính phủ và chính sách khoa học được gắn chặt với các quỹ đạo công nghệ của các nguồn năng lượng thay thế.

Bảng 9. Cụm đồng xuất bản chia theo lĩnh vực, Singapore, 2001-2008.

Nguồn: Thompson, Web of Science, 2012.
 
6. Sáng chế, chính sách và các thị trường

Năm 1985, một đội nghiên cứu của trường đại học Úc phát triển pin năng lượng mặt trời đầu tiên trên thế giới. Nhóm này phát triển một bộ thu “màng mỏng” thế hệ thứ hai. Mặc dù bước đột phá công nghệ cần thiết cho sự phát triển các pin quang điện đã được hỗ trợ rất nhiều bởi các chính sách khoa học của Úc, có rất ít hỗ trợ cho sự phát triển tiếp theo và sản xuất ra sản phẩm. Kết quả là sáng chế đã được phát triển ở nước ngoài tại Trung Quốc bởi một trong những thành viên ban đầu của nhóm nghiên cứu. Thú vị là tại thời điểm đó có rất ít hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc để củng cố sự phát triển của thị trường trong nước (Fischer, 2012). Trớ trêu thay, đã có sự xuất hiện của thị trường xuất khẩu quốc tế dưới sự thôi thúc của chính phủ ở Châu Âu và các nơi khác (bao gồm cả Úc) nhằm phát triển một ngành sản xuất năng lượng mặt trời trong khu vực dân cư. Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới các tấm năng lượng mặt trời (McNeil, 2009) đã đáp ứng các nhu cầu toàn cầu đối với các tấm năng lượng mặt trời ở khu dân cư. Vì vậy, quá trình chuyển đổi từ khám phá đến phát minh và đến ứng dụng có thể là một quá trình rất dễ biến đổi, cả về mặt công nghệ cũng như trong thực hành chính sách và các kết quả.

Cuối những năm 1990, chính phủ Úc đã đưa ra một số sáng kiến ​​chính sách để hỗ trợ phát triển của ngành năng lượng mặt trời năng lượng trong nước. Những sáng kiến ​​này bao gồm: giảm giá PV được đưa ra vào năm 2000; Mục Tiêu Năng Lượng Tái Tạo Bắt Buộc triển khai vào năm 2001; và Chương trình Phát Điện Tái Tạo Từ Xa bắt đầu vào năm 2001. Trong tháng 12 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ Úc đã ký phê chuẩn Nghị định thư Kyoto. Kể từ đó đã có một số sáng kiến ​​để hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho sự phát triển của một ngành công nghiệp năng lượng tái tạo. Những điều này bao gồm Chương trình Tín dụng Năng Lượng Mặt Trời, ưu đãi để hỗ trợ các Trường Năng Lượng Mặt Trời, một Sáng Kiến ​​Năng Lượng Sạch, Các Mục Tiêu Năng Lượng Tái Tạo, Tín Dụng Năng Lượng Mặt Trời, Các Sản Phẩm Năng Lượng Mặt Trời Hàng Đầu, Thành Phố Năng Lượng Mặt Trời, Quỹ Năng Lượng Tái Tạo, và, gần đây nhất là Thuế Xả Khí Thải Úc. Những sáng kiến ​​này đã dẫn đến sự tăng cao trong hoạt động cấp bằng các sáng chế có liên quan. Điều này rất có thể là do các nhà đầu tư nước ngoài tìm cách bảo vệ lợi ích của họ trong ngành công nghiệp năng lượng mặt trời đang nổi lên tại Úc.

Hình 2 minh họa sự gia tăng của tất cả các ứng dụng bằng sáng chế (Úc và quốc tế) trong lĩnh vực năng lượng mặt trời được đăng ký tại Úc, đặc biệt là sau khi ký kết Nghị Định Thư Kyoto. Tỷ trọng lớn nhất của các ứng dụng trong thời gian này là Mỹ (43%) Nhật Bản (17%) và Đức (8%). Các ứng dụng của Úc chiếm 12%. Khi mà việc cấp bằng sáng chế có thể được xem như là một chỉ số đại diện cho sự đổi mới, các dữ liệu này cho thấy mối quan hệ rõ ràng giữa chính sách và đổi mới.

Mức độ phát triển thành công ngành công nghiệp năng lượng mặt trời của Úc sẽ phụ thuộc vào việc liệu chính phủ có thể sử dụng các sáng kiến của mình để ​​kết hợp lại lợi ích của các nhà tư bản công nghiệp tiềm năng, các nhà khoa học và các doanh nhân trong cùng một hệ thống đổi mới phát triển bền vững. Một quá trình như vậy sẽ cần phải mang tính triệt để, nhanh chóng và có hệ thống (Xem Altenburg, 2012). Lập luận đưa ra trong bài này là điều này sẽ phụ thuộc vào sự quản lý hiệu quả của 5 quá trình xã hội đã được đưa ra ở trên: nhu cầu thị trường, các chính sách chiến lược của chính phủ được phối hợp chặt chẽ, các chiến lược đổi mới trong các công ty có sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước và xuyên biên giới, sự phát triển song song và được phối hợp của các công nghệ tương quan và việc theo dõi và “nắm bắt” các kiến thức khoa học mới. Mỗi qui trình xã hội này đòi hỏi sự đối thoại của các bên liên quan và sự hình thành “các chùm nhóm lợi ích” (Altenburg, 2012). Điều này sẽ dẫn đến một chương trình cho các công viên khoa học nhằm tìm kiếm một quỹ đạo đổi mới hướng tới phát triển xanh.

7. Kết luận: xác định vai trò trung gian cho các công viên khoa học

Sự tăng trưởng bền vững ở các nền kinh tế lớn như Ấn Độ và Trung Quốc đang cung cấp các yếu tố hấp dẫn mới cho các nhà khoa học toàn cầu. Tuy nhiên, nhiều khả năng là một số những quốc gia nhỏ hơn và kém phát triển hơn trong khu vực Châu Á sẽ khó thể giữ chân các nhà khoa học trong hệ thống của mình hoặc tiếp cận được với kiến thức mới thông qua các mạng lưới kiến ​​thức phân tán.

Các đầu tư R&D ngày càng nhiều ở Ấn Độ và Trung Quốc, đặc biệt trong các đặc khu kinh tế ngày càng tinh vi và các công viên khoa học có khả năng cung cấp nhiều cơ hội có các công việc sáng tạo cho các nhà khoa học. Chúng cũng sẽ tạo ra sự tập trung cao hơn vào sự hợp tác thông qua các DKNs. Khi sự tham gia của khoa học tăng lên thông qua các nghiên cứu sau tiến sĩ, nhiều khả năng là tính di động của khoa học và các hợp tác tại chỗ trong các khu vực này cũng sẽ tăng lên. Khi các hoạt động liên quốc gia mở rộng, chúng cung cấp các cơ hội mới cho cả các nghiên cứu tiến sĩ và đào tạo sau tiến sĩ. Cơ sở hạ tầng nghiên cứu tinh vi và các cơ hội hợp tác với các nhà nghiên cứu đẳng cấp thế giới trong các công ty sáng tạo là những yếu tố quan trọng kéo các nhà khoa học đến với các khu vực nhất định, bao gồm cả các nước trong khu vực.
 
Hình 2: Tổng số các ứng dụng năng lượng mặt trời được cấp bằng sáng chế ở Úc, 1981 – 2011.

Nguồn: Bảng từ cơ sở Dữ Liệu Bằng Sáng Chế Úc, 2012..

Dữ liệu gần đây đã chỉ ra rằng các nhà khoa học trong lĩnh vực kinh doanh có nhiều khả năng sẽ được đào tạo và ở lại quê hương cao hơn so với các đồng nghiệp của họ ở các trường đại học và khu vực công (Turpin et al 2007 and 2008). Họ có vẻ ít di động hơn và theo nhóm của mình. Tuy nhiên các mạng lưới của họ được liên kết chặt chẽ, thông qua các hoạt động kinh doanh và khoa học của họ với Mỹ và ở một mức độ thấp hơn là với Vương quốc Anh và Đức. Như vậy có vẻ như những mạng lưới kinh doanh dựa trên kiến ​​thức chuyên sâu được xây dựng theo cách tương tự như các mạng lưới khoa học. Các công viên khoa học có thể tận dụng lợi thế của cả hai mạng lưới kinh doanh và khoa học. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận chiến lược và chủ động trong đó có sự theo dõi cẩn thận các tiến bộ khoa học toàn cầu. Trong trường hợp các tiến bộ này có liên quan đến các ưu tiên chiến lược trong công viên khoa học, nên có sự tạo điều kiện tham gia với các trung tâm kiến thức đó thông qua quan hệ đối tác hợp tác nghiên cứu, học bổng sau đại học và các chương trình trao đổi.

Việc chuyển đi của các nhà khoa học để được đào tạo hoặc làm việc ở các nước khác không có nghĩa là quê nhà mất đi các chuyên gia khoa học đó. Như Mahroun và De Guchteneire. (2006) đã gợi ý, có tiềm năng để các nước đang phát triển có thể nắm bắt một số lợi ích từ các chuyên gia của họ ở nước ngoài, ngoài việc chỉ đơn giản là nhận được các khoản tiền gửi về. Lấy ví dụ về chuyên ngành y tế, họ cho rằng các nước nói trên sẽ có lợi bằng cách hỗ trợ các liên kết giữa các nước qua các chương trình phát triển chính thức. Các vị trí cao có thể tạo sự hấp dẫn nhưng cần có các sáng kiến chính sách đặc biệt để tận dụng tối đa được các cơ hội. Những sáng kiến ​​này có thể được thực hiện bởi các nước liên quan và / hoặc bởi cơ quan viện trợ quốc tế hỗ trợ các nước trong khu vực. Trung Quốc và Ấn Độ đã và đang nhận lại sự trở lại của một số nhà khoa học hàng đầu của họ, những người đã từng làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là kể từ năm 2001 (Dente 2007). Một số những người trở về này hiện giữ cả 2 chức vụ quan trọng trong các tổ chức hàng đầu của Mỹ và các tổ chức then chốt tại quê hương. Như Dente đã ghi nhận gần đây chủ yếu có liên quan đến các ngành khoa học sinh học:

Hợp tác quốc tế giữa các viện nghiên cứu của các quốc gia khác nhau đã trở thành một động cơ chính thúc đẩy khoa học và công nghệ và thúc đẩy các nhà khoa học đi lại xuyên các biên giới ngày càng thường xuyên hơn. (Dente, 2007: 16)

Thể chế hợp tác giữa các quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho sự đi lại của các nhà khoa học qua các biên giới quốc gia và trong trường hợp của Ấn Độ và Trung Quốc, trở thành một dòng chảy hai chiều. Dente thậm chí đã nói điều này có thể được coi như là một sự chảy máu chất xám của Châu Âu (Dente, 2007:17).

Các nghiên cứu sau tiến sĩ cũng cung cấp các cơ hội xây dựng mạng lưới quan trọng. Quốc gia cung cấp việc đào tạo sau tiến sĩ hình thành nơi làm việc cuối cùng của các nhà khoa học đó và là nơi có mạng lưới quan hệ lâu dài của họ (xem Woolley et al 2008). Chính phủ các nước có thể hợp tác với các công viên khoa học để có thể các cơ cấu sự nghiệp cho phép những khoa học gia giỏi nhất và thông minh nhất của họ, những người có thể đã bị cám dỗ ở lại nước ngoài sau khi hoàn thành đào tạo, có thể trở lại thường xuyên để dạy lại hoặc thực hiện các dự án cụ thể tại “quê hương” của họ. Các khoa học gia tốt nghiệp loại này mang về nhiều kiến thức ngầm rất cần thiết về các phương pháp khoa học mới, trang thiết bị và các lĩnh vực cần tìm hiểu đầy hứa hẹn. Được hỗ trợ phù hợp tại quê nhà, họ có thể nhanh chóng đóng góp đáng kể.

Các công viên khoa học tại các nước như Ấn Độ và Trung Quốc có thể phục vụ như là một trọng tâm quan trọng trong những nỗ lực phát triển quốc gia (Ramirez và Dickenson, 2007). Ví dụ các chính sách phát triển có thể đưa ra các giải thưởng sau tiến sĩ cho các nhà khoa học trẻ hàng đầu có thể nhận được tại các địa điểm được nhắm mục tiêu. Địa điểm gửi đi có thể khác nhau tùy theo sức mạnh khoa học quốc gia và các ưu tiên nghiên cứu của các quốc gia gửi người đi. Các lựa chọn cần mang tính chiến lược, với logic xây dựng trên thế mạnh hiện có hoặc thế mạnh đang nổi lên bằng cách gửi các chuyên gia đến gần các trung tâm kiến thức trong khu vực. Nhiều nhà hoạch định chính sách có thể cảm thấy đây là một lựa chọn rủi ro, có khả năng làm mất thêm tài năng quốc gia từ các nước đang phát triển bởi vì nó có khả năng dẫn đến “chảy máu chất xám” về mặt địa lý. Theo quan điểm của chúng tôi thì phương pháp này nên được xem như cách bổ sung bên cạnh việc kết nối sự nghiệp và các cơ hội sáng tạo với các chiến lược phát triển khác nhằm tăng cường cơ sở hạ tầng khoa học địa phương và năng lực quản lý nghiên cứu. Bằng chứng của chúng tôi cho thấy rằng các “người ở lại” (tức là những người hoàn thành đào tạo nghiên cứu của họ tại quê nhà) có xu hướng ở lại quê hương hoặc quay trở lại một cách nhanh chóng. Những người muốn mở rộng nghiên cứu của họ hơn nữa, ví dụ như thông qua các học bổng nghiên cứu sinh sau tiến sĩ là những người có xu hướng ra đi nhiều hơn. Các thành viên thuộc nhóm này tiếp cận gần hơn với trung tâm của các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu, họ có tiềm năng đóng góp vào năng lực khoa học ở quê nhà rất đáng kể.

Sự tinh vi ngày càng tăng của công nghệ thông tin và truyền thông đã mở đường cho sự phát triển của mạng lưới kiến ​​thức dựa trên các tương tác phân tán về không gian thông qua các DKNs. Những mạng lưới này có thể là cơ sở cho cơ chế trao đổi kiến thức quốc tế trong khu vực hoặc rộng hơn. Thật vậy, nó là sự kết hợp của sự gần gũi về tổ chức và các tương tác phân tán về không gian tạo nên các đặc tính của sự phát triển của các trung tâm tri thức ở nhiều nơi của thế giới (TIAC 2002). Những trung tâm này không chỉ đơn giản là liên kết giữa các viện nghiên cứu hoặc trường đại học và ngành công nghiệp mà bao gồm cả các cụm giáo dục, đào tạo và các tổ chức nghiên cứu trong đó các thành viên của chúng cùng phối hợp, phát triển các mối liên kết mạnh mẽ với ngành công nghiệp và cải thiện cơ sở hạ tầng R&D. Họ phụ thuộc vào sự thẩm thấu kiến thức xuyên qua các biên giới quốc tế, vốn là một đặc tính đang ngày càng phát triển và bền vững của bối cảnh khoa học ở châu Á. Các công viên khoa học có thể được hưởng lợi từ chuyên môn của các cán bộ khoa học và công nghệ mà đất nước của họ có thể sản sinh và có thể “mượn”.

Phân tích của chúng tôi củng cố thêm cho sự quan sát thấy rằng lợi thế của quốc gia và doanh nghiệp ngày càng xuất phát từ ​​hợp tác hơn là cạnh tranh trực tiếp. Cách tiếp cận hẹp mang tính cạnh tranh cao hơn đóng vai trò chủ đạo trong các thập niên 1970 và thập niên 80 đã không còn mang lại những lợi ích trong trật tự toàn cầu của khoa học và đổi mới - không phân biệt các cấp độ phát triển công nghiệp khác nhau của các nước. Mạng lưới kiến ​​thức thu hút các kỹ năng và kiến thức về khoa học, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và hệ thống kinh doanh với nhau vào các “mạng lưới đổi mới”. Các mạng lưới đổi mới thay đổi liên tục khi mà các thành viên chủ chốt của nó đưa ra các quyết định chiến lược như việc mở rộng hoặc giảm bớt sự tiếp cận vào mạng lưới, có thể là mở cửa cho các thành viên mới hoặc đóng cửa. Các công viên khoa học và các công ty sáng tạo trong công viên, bằng nhiều hình thức khác nhau đang ngày càng tìm cách để trở thành trung tâm của các mạng lưới này.

Các chính sách, chiến lược và cấu trúc đổi mới quốc gia trong nhiều trường hợp đã không sắp xếp lại cho phù hợp với những phát triển mới. Thật vậy, sự đổi mới, các chính sách khoa học và công nghệ quốc gia đã tụt lại phía sau sự thay đổi cấu trúc đang diễn ra, đặc biệt là trong các đặc khu kinh tế và các trung tâm kiến thức đang nổi lên. Các công viên khoa học và các công ty sáng tạo có thể đi sát phía trước những thay đổi này và đóng vai trò hàng đầu trong phát triển khu vực bằng cách tiếp cận gần hơn với trung tâm khoa học của các mạng lưới tri thức toàn cầu và bằng cách đó mang lại các sự nghiệp sáng tạo cho các nhà khoa học trên toàn cầu.

Cuối cùng, như đã lập luận ở trên, cần có sự kết hợp của các lợi ích của các bên liên quan và cần có các trọng điểm để phục vụ quá trình này. Câu chuyện về sự phát triển của xe điện là một trường hợp thú vị. Bởi sự đa dạng của các nhà cung cấp hiện tại và cả các nhà cung cấp tiềm năng, cần đưa ra các chiến lược hoạch định có tầm nhìn xa, chương trình hành động, lập lộ trình và các công cụ hoạch định như thế. Các công viên khoa học đang ở một vị trí độc đáo để hỗ trợ quá trình này. Chúng tham gia vào việc tạo ra và ứng dụng tri thức. Tuy nhiên, vai trò của chúng trong các tranh luận chính sách công cho đến nay dường như chỉ là tối thiểu. Có lẽ trong tương lai điều này sẽ thay đổi. Nếu các công viên khoa học đặt ra các ưu tiên chiến lược nhằm tạo ra các chính sách đổi mới theo định hướng bền vững thì họ sẽ cần phải có tác động lớn hơn.
 
Tài liệu tham khảo:

Altenburg, Tilman and Anna Pegels (2012) ‘Sustainability-oriented innovation systems – managing the green transformation’ in Innovation and Development, Vol. 2, No. 1.

Altenburg, Tilman (2012) ‘Introduction to the Special Issue:  Sustainability-oriented innovation systems in China and India, in Innovation and Development, Vol. 2, No. 1.

Boakholt, Patries, (2010) ‘The Evolution of innovation Paradigms and their Influence on Research, Technological Development and Innovation Policy Instruments’ in Ruud E. Smits, Stefan Kuhlmann and Philip Shapiro (Eds.) The Theory and Practice of Innovation Policy, Edward Elgar, Cheltenham.

Bozeman, B., Corley, E., 2004. Scientists’ collaboration strategies: implications for scientific and technical human capital. Research Policy 33, 599–616.

Castells, Manuel ( 2001) ‘Information Technology and Global Dvelopment in Johan Muller. Nico Cloete and Shireen Badat (Eds.) Challenges of Globalisation: South African debates with Manuel Castells,  Capetown: Maskew Miller Longman Pty Ltd. pp. 152-167.

Degelsegger, Alexander and Cosima Blasay (2011) (Eds.) Spotlight on: Science and technology Cooperatiuon Between Southeast Asia and Europe, Centre for Social Innovation (ZSI) Vienna.

Dente, Karen (2007) ‘Scientists on the Move’ in Cell (129) April 6, 2007 pp 15-17.

Des Moine Register (2012) www.desmoineregister.com/article/99999999/ famousiowans/41217016/morrison-william?pagerestricted=1

Effendi, P. and Courvisanos, J. (2012). Political Aspects of Innovation: Examining Renewable Energy in Australia. Renewable Energy, 38, 245-252

Etzkowitz, Henry and Loet Leydesdorff (1997) Universities and the Global Knowledge Economy: a triple helix of university-industry-government relations, Pinter: London.

Fischer, Doris (2012) ‘Challenges of low carbon technology diffusion: insights from shifts in China’s photovoltaic industry development’, in Innovation and Development, Vol. 2, No. 1.

Hollanders, Hugo and Luce Soet (2010) The growing role of knowledge in the economy, in Susan Schneegans (Ed.) UNESCO Science Report 2010: The Current Status of Science around the World, UNESCO Paris.

Kuhlmann, Stefan Philip. Shapira and Ruud. Smits (2010) Introduction. A Systemic perspective: The Innovation Policy Dance, in Ruud E. Smits, Stefan Kuhlmann and Philip Shapiro (Eds.) The Theory and Practice of Innovation Policy, Edward Elgar, Cheltenham.

Leydesdorff, Loet and Caroline Wagner (2005) ‘Mapping global science using international co-authorshps: a comparison of 1990 and 2000’, in International Journal of Technology and Globalisation, 1 (2) pp 185-208)

Lundvall, B. A. (2010). National systems of innovation-towards a theory of innovation and interactive learning, London, Anthem Press.

Mahroum, Sami and Paul De Guchteneire (2006) Transnational Knowledge Through Diaspora Networks (editorial)  International Journal of Multicultural Societies, Vol. 8 (1): 1-3.

McNeil B. (2009) The clean industrial revolution: growing Australian prosperity in a greenhouse age, Allen and Unwin, Sydney

Meyer, John-Baptiste and Jean-Paul Wattiaux (2006) ‘Diaspora Knowledge Networks: Vanishing Doubts and Increasing Evidence, International Journal of Multicultural Societies, Vol. 8 (1), 4-24.

Niosi, Jorge (2010) Rethinking science, technology and innovation (STI) institutions in developing countries,  Innovation: management, policy and practice Vol 12, 250 -268.

Ramirez, Matias and Peter Dickenson (2007) Knowledge Workers and Knowledge Flows in China: a case study of innovation in ICT in Beijing’s Zhongguancun Science Park, Brunel, Research and Enterprise, Innovation, Brunel University.

Schneegans, Susan (2011) (Ed.) UNESCO Science Report 2010: The Current Status of Science around the World, Susan Schneegans (Ed.) ; UNESCO Paris.

Shapira, Philip, Ruud Smits and Stefan Kuhlmann ((2010) An Outlook on Innovation Policy, Theory and Practice, in Smits, Ruud E., Stefan Kuhlmann and Philip Shapira, (Eds.) The Theory and practice of Innovation Policy,  Edward Elgar, Cheltenham

Smits, Ruud E., Stefan Kuhlmann and Philip Shapira, (2010) (Eds.) The Theory and practice of Innovation Policy,  Edward Elgar, Cheltenham.

Stein, Josephine Anne (2002) ‘Globalisation, science, technology and policy’ in Science and Public Policy,  Vol 29, No. 6, pp 402 – 408

TIAC (2002) The Organisation of Knowledge: Optimising the Role of Universities in a Western

Timeline: History of the Electric Car (2012) available at www.pbs.org/now/shows/223/electric-car-timeline.html accesed, July 2012.

Turpin, Tim, Richard Woolley, Patarapong Intarakumnerd and Wasantha Amaradasa, (2010) ‘Asia and Oceania’, in UNESCO Science Report 2010: The Current Status of Science around the World, Susan Schneegans (Ed.) ; UNESCO Paris.

Turpin, Tim (2000) Science and technology Policies in Asia-Pacific Economies: implications for regional knowledge systems and social transformation, CAPSTRANS-CEDA Policy paper Series No. 3, CEDA Information paper No. 70, Committee for Economic Development of Australia, ISSN 1443-4393, 2000.

Turpin, Tim and V.V. Krishna (Eds.) (2007) Science Technology Policy and the Diffusion of Knowledge: understanding the dynamics of innovation systems in the Asia Pacific,  Edward Elgar, Cheltenham.

Turpin, Tim, Richard Woolley, Jane Marceau and Stephen Hill, (2007) Where will all the scientists go? The Role of Science Parks in Establishing Scientific Communities and Regional Knowledge Hubs’ paper presented to the XXIV World Conference on Science and Technology Parks, ‘Creative Jobs and Creative Companies – Key factors for growth and competitiveness, Barcelona 2 4 July 2007


Turpin, Tim, Richard Woolley, Jane Marceau and Stephen Hill, (2008)‘Conduits of Knowledge in the Asia Pacific: research training, networks and country of work’, Asian Population Studies, 4 (3) 247-265

Urban Frank, Johan Nordensvard and Zhou Yuan (2012) ‘Key actors and their motives for wind energy innovation in China’, in Innovation and Development, Vol. 2, No. 1, pp. 111-130.

Waltz, Rainer and Jonathan Novak Delgado (2012) ‘ Different routes to technology acquisition and innovation system building? in Innovation and Development, Vol. 2, No. 1, pp. 87-111.

Woolley, Richard, Tim Turpin, Jane Marceau and Stephen Hill, (2008) ‘Mobility matters: Acquiring and distributing innovative capability in science’ Comparative Technology Transfer and Society, 6, (3) pp. 159-86.

University of Groningen (2012). www.rug.nl/museum/geschiedenis/hoogleraren/stratingh?lang=en).

World Energy (2012) World Enegy Investment Summit, Background Paper, Shanghai, 18-19 September, 2012.

Zaman, Rapela and Tessa Gardner, (2011) The role of EU-ASEAN scientific cooperation in tackling global challenges’ in Spotlight on: Science and Technology Cooperation Btwen Southeast Asia and Europe,  Alexander Degelsegger and Cosima Blasy (Eds.) Centre for Social Innovation (ZSI) Vienna.
Chuyên mục, tin tức liên quan:

Quản lý video Quản lý video

Liên kết web Liên kết web

©© Bản quyền của Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp

Giấy phép số 11/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 25/01/2013

Trưởng Ban biên tập: Đoàn Ngọc Hùng Anh, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu công nghệ cao Đà Nẵng

Địa chỉ: Địa chỉ: Tầng 30, Trung tâm hành chính TP.Đà Nẵng

Điện thoại: 0236 3566704               Fax: 0236 3566705               Email: dhtp@danang.gov.vn

Điện thoại bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và Trả kết quả cho công dân, tổ chức: 0236.3881888, nhánh 430

Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp" hoặc "www.dhtp.gov.vn" khi trích dẫn lại thông tin từ Website này.