Mối tương quan giữa công nghiệp công nghệ cao với hoạt động R&D trong các khu công nghệ cao
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 22/08/2013 Lượt xem: 27

Trong bài “Các khu công nghệ cao tại Việt Nam, cái gì là khó nhất?”, có đoạn: Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC Tp.HCM đều nhắm tới 2 mục tiêu: Xây dựng được một khu công nghiệp CNC mạnh, song song với việc từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu - phát triển CNC. Có thể xem mục tiêu thứ 2 là đích cuối cùng quan trọng nhất phải đạt được và mục tiêu đầu là một trong những giải pháp quan trọng để đạt mục tiêu 2, mục tiêu tối thượng.

 
Lời BBT: Khu công nghệ cao (KCNC) Đà Nẵng được thành lập ngày 28/10/2010 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chọn chiến lược thích hợp nhất để phát triển KCNC là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Ban Quản lý KCNC.
Được sự cho phép của tác giả, Ban Biên tập Website KCNC Đà Nẵng trân trọng gửi tới độc giả chùm bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Trọng đề cập đến chiến lược xây dựng KCNC ở Việt Nam. Các bài viết này đã được đăng trên Website KCNC thành phố Hồ Chí Minh (shtp.hochiminhcity.gov.vn).
Tiến sĩ Nguyễn Trọng đã từng kinh qua các chức vụ: Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Tin học thành phố Hồ Chí Minh các khóa 2 và 3 (1993 - 2004); Tổng biên tập Tạp chí Thế giói Vi tính - PC World VN (11/1992 - 11/2004); Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về Công nghệ thông tin (2002 - 2004).
 
Bài 2: Mối tương quan giữa công nghiệp công nghệ cao với hoạt động R&D trong các khu công nghệ cao
 
Trong bài “Các khu công nghệ cao tại Việt Nam, cái gì là khó nhất?”, có đoạn: Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNC Tp.HCM đều nhắm tới 2 mục tiêu: Xây dựng được một khu công nghiệp CNC mạnh, song song với việc từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu - phát triển CNC. Có thể xem mục tiêu thứ 2 là đích cuối cùng quan trọng nhất phải đạt được và mục tiêu đầu là một trong những giải pháp quan trọng để đạt mục tiêu 2, mục tiêu tối thượng.
 
Suy nghĩ trên thực ra chỉ là đúng cho một giai đoạn nhất định (có thể gọi là “chu kỳ I”) của quá trình phát triển các khu công nghệ cao (CNC), mặc dù suy nghĩ đó chính là ý chủ đạo dẫn dắt các lập luận của bài viết đó. Trên thế giới, các khu gọi là công viên khoa học đều có mục tiêu lớn là tạo ra một khu công nghiệp CNC phát triển mạnh. Như vậy, cái mà ở trên ta gọi là “giải pháp” lại chính là mục tiêu lớn cuối cùng!
 
Có gì đó luẩn quẩn chăng?

Không có gì luẩn quẩn! Tuy nhiên, để tránh việc thảo luận quá phức tạp, ta tạm giới hạn chỉ xem xét chu kỳ I của các khu CNC ở nước ta. Nghĩa là chấp nhận các khu CNC ở Việt Nam có 2 mục tiêu với đích phải đạt là mục tiêu 2 (R&D về CNC), còn mục tiêu 1 (công nghiệp CNC) là một giải pháp quan trọng (chú ý là ta đang chỉ luận bàn về các khu CNC Việt Nam ở chu kỳ I).
 
Nhìn vào Công viên Khoa học Tân Trúc (Hsinchu) Đài Loan

Nói đến sự thành công trong phát triển CNC tại các quốc gia đang phát triển vào cuối thế kỷ 20, cả thế giới đều nhìn vào Công viên Khoa học Hsinchu Đài Loan (gọi tắt là Hsinchu). Trong những năm 70 - 80 thế kỷ trước, Đài Loan thuộc loại đang phát triển. Hsinchu ra đời ngày 15/12/1980, đến năm 1983 có 37 công ty thuộc các lĩnh vực mà nay ta gọi là công nghiệp CNC (thời ấy) với doanh số 3.000 triệu Đài tệ  (ĐT), 1 USD bằng khoảng 30 ĐT, như vậy 3.000 triệu ĐT ước khoảng 100 triệu USD. Đến 2009 thì số công ty trong Hsinchu là 440 với doanh số 883.500 triệu ĐT (khoảng 30 tỷ USD). Khoảng 85% các công ty có mặt trong Hsinchu là các  công ty Đài Loan, 15% là đầu tư nước ngoài. Hsinchu đã qua 3 giai đoạn chính:

1. Giai đoạn I: phát triển một khu công nghiệp CNC.

Trong khoảng 10 năm đầu (1980 - 1990), Hsinchu thu hút được 121 công ty gia nhập khu. Số lượng tiến sỹ làm việc trong các doanh nghiệp này tăng dần, từ số chục lên đến số trăm (167) người, số bằng sáng chế được cấp bắt đầu được ghi nhận từ năm 1989 với 79 bằng và năm 1990 với 74 bằng. Có thể nói từ khoảng năm 1990, chất khoa học bắt đầu phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất trong Hsinchu, tức là chất khoa học phát sinh và phát triển từ khu vực công nghiệp CNC của khu này.
 
2. Giai đoạn II: phát triển Hsinchu thành khu công nghiệp trên nền tảng khoa học.

Bước sang thập kỷ 90, Hsinchu bắt đầu có dáng dấp một khu công nghiệp phát triển trên nền tảng của khoa học. Nói cách khác, Hsinchu bắt đầu cuộc sống của một công viên khoa học. Vào năm 1993, người viết các dòng này có dịp tham gia một đoàn khảo sát Hsinchu do Tp.HCM tổ chức. Lãnh đạo Hsinchu đã nói rằng họ bắt đầu một giai đoạn mới, với tên gọi khu này là The Science Based Industrial Zone Hsinchu (Khu công nghiệp trên nền tảng khoa học Tân Trúc).
 
Lãnh đạo các cấp của Hsinchu tập trung chăm lo sự phát triển các hoạt động R&D trong các doanh nghiệp công nghiệp trong Hsinchu, kết hợp chặt chẽ với Viện Công nghệ ITRI và Đại học Thanh Hoa là những đơn vị bên ngoài khu nhưng kề bên Hsinchu và có tác động quan trọng về phát triển công nghệ với toàn Đài Loan nói chung và với Hsinchu nói riêng. Từ năm 1991 đến 1999, số tiến sỹ làm việc trong các công ty công nghiệp tại Hsinchu tăng từ số trăm lên số ngàn (1.039 người vào năm 1999); số bằng sáng chế được cấp vào năm 1999 là 1.260; kinh phí đầu tư cho R&D của các công ty trong Hsinchu đạt 35.454 triệu ĐT.

Khoảng 1,2 tỷ USD, tức khoảng 5,4% doanh số của các doanh nghiệp cộng với nhà nước đầu tư cho R&D trong các doanh nghiệp là 248 triệu ĐT (trên 80 triệu USD), và với trên ngàn bằng sáng chế hàng năm, rõ ràng các hoạt động R&D về CNC trong Hsinchu bắt đầu khởi sắc một cách vững vàng.
 
Bảng tổng hợp các thành tựu của Hsinchu suốt chiều dài lịch sử
 
Năm
Số Cty
Doanh số
(trăm triệu
Đài tệ)
Chi R&D
(triệu ĐT)
% R&D/
Doanh số
Chi R&D
Nhà nước
(Triệu ĐT)
Tiến Sỹ
Thạc sỹ
Tổng
nhân lực
Số lượng sáng chế
1981
17
 
 
 
 
 
 
 
 
1982
26
 
 
 
 
 
 
 
 
1983
37
30
 
 
 
 
 
 
 
1984
44
95
 
 
 
 
 
 
 
1985
50
105
 
 
 
 
 
 
 
1986
59
170
 
 
75
74
426
8275
 
1987
77
275
 
 
103
77
500
12122
 
1988
94
490
1928
5.1
122
94
695
16447
 
1989
105
559
2536
4.6
104
114
951
19080
79
1990
121
656
3429
5.4
145
167
1325
22368
74
1991
137
777
4204
6
297
180
1567
23348
186
1992
140
870
4458
5.4
199
196
1846
25088
94
1993
150
1290
6293
4.9
440
244
2315
28473
143
1994
165
1778
8346
4.6
373
337
3308
33627
226
1995
180
2992
12570
4.2
297
522
4863
42374
532
1996
203
3182
17824
5.6
333
699
6705
54893
621
1997
245
3997
23526
5.9
388
839
8495
68502
1021
1998
272
4550
32322
7.1
295
986
10037
72703
904
1999
292
6509
35454
5.4
248
1039
10913
73229
1260
2000
289
9293
40064
4.2
 
1209
14811
96677
2366
2001
312
6625
58938
8.9
311
1208
15617
92747
2991
2002
334
7054
59907
8.5
386
1210
16666
94382
2688
2003
369
8578
58866
6.8
308
1224
17959
97159
3026
2004
384
10859
63397
5.8
431
1291
19830
106480
3101
2005
382
9879
67510
6.8
236
1354
20803
114868
2343
2006
392
11209
64885
5.9
43
1355
22445
121501
2840
2007
416
11464
66554
5.9
149
1421
24453
129460
2726
2008
430
10080
80359
8.2
141
1830
29128
130577
1894
2009
440
8835
131783
5
259
2244
30963
132174
1867
2010
 
 
 
 
 
2361
33728
139416
2043
 
(Tổng hợp từ các báo cáo hàng năm của Hsinchu)
 
3. Giai đoạn III: Hsinchu trở thành công viên khoa học.

Bước vào thế kỷ 21, khu công nghiệp dựa trên nền khoa học Hsinchu thực sự trở thành một công viên khoa học. Các nhà khoa học đổ về đây với 2.361 tiến sỹ, 33.728 thạc sỹ, 43.891 cử nhân - kỹ sư vào năm 2010 (chiếm 58% lực lượng lao động trong Hsinchu). Số lượng bằng sáng chế hàng năm là trên 2.000, có nhiều năm lên đến trên 3.000. Đặc trưng của công viên khoa học là nơi mà các hoạt động R&D về CNC phát triển mạnh mẽ làm nền tảng cho một vùng công nghiệp CNC rực rỡ. Hsinchu ngày nay chính là như vậy, nơi đây tạo ra tới 1/10 nền kinh tế Đài Loan.
 
TS. Nguyễn Trọng
Chuyên mục, tin tức liên quan:

Quản lý video Quản lý video

Liên kết web Liên kết web

©© Bản quyền của Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp

Giấy phép số 11/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 25/01/2013

Trưởng Ban biên tập: Đoàn Ngọc Hùng Anh, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu công nghệ cao Đà Nẵng

Địa chỉ: Địa chỉ: Tầng 30, Trung tâm hành chính TP.Đà Nẵng

Điện thoại: 0236 3566704               Fax: 0236 3566705               Email: dhtp@danang.gov.vn

Điện thoại bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và Trả kết quả cho công dân, tổ chức: 0236.3881888, nhánh 430

Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp" hoặc "www.dhtp.gov.vn" khi trích dẫn lại thông tin từ Website này.